Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2016

Một số bệnh thường gặp ở gia cầm trong mùa mưa bão và cách phòng trị (phần 1)

Trong mùa mưa bão, mưa to, gió lớn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe gia cầm; đồng thời khi mưa to, có thể gây ngập úng cục bộ hoặc lụt trên diện rộng, tạo cơ hội phát tán mầm bệnh, là điều kiện thuận lợi để phát sinh dịch bệnh trên đàn gia cầm.

    Vì vậy, chúng ta cần lưu ý một số bệnh thường xảy ra như sau:
    1. Bệnh cúm gia cầm
    Do vi rút Influenza A gây nên bệnh truyền nhiễm cấp tính, rất nguy hiểm, lây lan nhanh, mạnh, xảy ra ở tất cả các loại gia cầm; gà, vịt, ngan, ngỗng, chim ở mọi lứa tuổi. Bệnh lây sang người.
    1.1. Triệu chứng lâm sàng
    Bệnh cúm gia cầm có thời gian ủ bệnh từ 3 - 7 ngày.
    Gà mắc bệnh cúm gia cầm, xuất huyết mí mắt, mặt, đầu tím

    - Các triệu chứng về hô hấp thường biểu hiện ho khẹc, hắt hơi, thở khò khè, vảy mỏ, chảy nhiều nước mũi, nước mắt.
    - Mi mắt bị viêm, mặt phù nề, sưng mọng, đầu sưng, mào tích dày lên do thuỷ thũng, tím tái, có nhiều điểm xuất huyết, da chân có xuất huyết.
    - Có biểu hiện thần kinh, mệt mỏi, nằm ủ rũ, tiêu chảy mạnh, phân loãng trắng hoặc vàng, xanh.
    Gà mắc bệnh cúm gia cầm, da chân xuất huyết

    1.2. Bệnh tích
     - Xung huyết, xuất huyết, tiết nhiều dịch rỉ viêm và hoại tử các cơ quan và cơ; mào, tích s­ưng to tím sẫm, phù mí mắt; phù keo nhày và xuất huyết dưới da đầu; xuất huyết điểm ở miệng; khí quản phù, chứa nhiều dịch nhầy.
    - Tăng sinh túi khí, viêm màng bao tim, màng gan, màng ruột; lách, gan, thận, sưng to, hoại tử; xuất huyết mỡ vành tim; ruột viêm cata và xuất huyết; gà mái đẻ viêm ống dẫn trứng, vỡ trứng non.
    - Da chân xuất huyết; chảy máu lỗ chân lông, máu không đông hoặc khó đông; nếu gà chết quá cấp tính, các bệnh tích th­ường không điển hình.
    1.3. Phòng và chống bệnh cúm gia cầm
    Chỉ chọn mua gia cầm ở những cơ sở giống tốt, đảm bảo không có bệnh.
    Không nhốt chung gia cầm mới mua về với gia cầm khoẻ đang nuôi, cần cách ly nuôi riêng trong vòng 21 ngày.
    Vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại thường xuyên.
    Đảm bảo chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi luôn luôn sạch và khô ráo.
    Thức ăn, nước uống sạch sẽ.
    Hạn chế người ra vào khu vực chăn nuôi.
    Có biện pháp ngăn ngừa, không nuôi chung nhiều loại gia cầm hoặc gia cầm nhiều lứa tuổi trong cùng khu vực hoặc tiếp xúc với bồ câu, chim trời…
    Thường xuyên thải loại những gia cầm ốm, yếu ra khỏi đàn.
    Thường xuyên sát trùng chuồng gia cầm và khu vực thả gia cầm
    Tiêm vắcxin phòng bệnh theo hướng dẫn của cơ quan thú y.
    Khi có dịch bệnh xảy ra:
    Báo ngay cho cán bộ thú y cơ sở khi thấy gia cầm ốm, chết bất thường.   Không bán chạy, phát tán gia cầm ốm, chết, gia cầm khỏe cùng trong đàn, chất thải ra môi trường.
    Bao vây ổ dịch, tiêu huỷ toàn bộ gia cầm chết, mắc bệnh và gia cầm khác trong đàn, và các chất thải bằng cách đốt hoặc đào hố chôn sâu với chất sát trùng hoặc vôi bột theo quy định của thú y.
    Vệ sinh, tiêu độc ổ dịch theo hướng dẫn của cán bộ thú y.
    2. Bệnh Niu-cat-xơn
    Bệnh Niu-cat-xơn (Newcastle) còn được gọi là bệnh “dịch tả gà”, gà rù, bệnh gây ra do siêu vi trùng (vi rút). Bệnh xảy ra ở gà mọi lứa tuổi, đôi khi trên bồ câu.
    2.1. Nguyên nhân
    Do vi rút gây bệnh, thời gian nung bệnh từ 3-6 ngày.
    2.2. Lây truyền
    Bệnh Niu-cat-xơn rất dễ lây nhiễm qua đường hô hấp và tiếp xúc giữa gà bệnh và gà khoẻ; do dụng cụ, thiết bị, con người, phương tiện đi lại, môi trường nhiễm mầm bệnh.
    2.3. Triệu chứng lâm sàng
    Có 4 dạng bệnh tuỳ theo độc lực của chủng vi rút gây bệnh.
    a) Dạng bệnh do chủng độc lực mạnh
    Bệnh xuất hiện đột ngột và lây mạnh, chết nhanh trong vòng 3- 4 ngày, có thể không biểu hiện rõ triệu chứng. Hoặc gà có triệu chứng thở, ho, lờ đờ, mào tái, phân lỏng trắng, đẻ giảm, trứng non nhiều. Tỷ lệ chết tới 90%.
    b) Dạng bệnh do chủng độc lực trung bình
    Bệnh lây mạnh, chết kéo dài, biểu hiện triệu chứng, bệnh tích rõ.
    - Gà lù  rù, mào tái, uống nhiều nước, thở khó, thường kêu “toác”, nhiều dãi nhớt, phân loãng trắng hơi xanh hoặc hơi vàng.
    - Bệnh kéo dài từ 7-12 ngày, xuất hiện triệu chứng thần kinh.
    - Tỷ lệ đẻ giảm, trứng non nhiều, tỷ lệ chết từ 10 - 40%.
    c) Dạng bệnh do chủng độc lực yếu:
    Chủ yếu là gà con, gà dò, phân loãng, nhiều cặn màu trắng.
    d) Dạng mang trùng (có hoặc triệu chứng không rõ)
    Gà hơi mệt mỏi, kém ăn, không chết nhưng nguy hiểm là tàng trữ mầm bệnh làm lây nhiễm cho gà khoẻ.
     Gà mắc bệnh Niucatxơn, triệu chứng thần kinh, dạ dày tuyến xuất huyết

    2.4. Bệnh tích
    Nhìn chung bệnh do chủng vi rút độc lực cao và trung bình gây ra. Bệnh tích: xuất huyết đường tiêu hoá và có nhiều điểm loét ở miệng, họng, thực quản: đặc biệt dạ dày tuyến có từng đám tụ huyết, xuất huyết đỏ ở ruột non, ruột già, hậu môn xuất huyết rõ, khí quản chứa nhiều dịch nhày.
    Niêm mạc mũi, khí quản viêm cata có dịch nhầy, có nhiều bọt khí ở túi khí. Màng não bị xuất huyết đỏ như đầu đinh ghim.
    2.5. Khắc phục và phòng bệnh
    Không có thuốc đặc hiệu điều trị bệnh Niu-cat-xơn.
    a) Khắc phục
    - Tiêm kháng huyết thanh cho toàn đàn hoặc tiêm vắc xin Niu-cat-xơn cho gà trên 2 tháng tuổi, nhỏ vắc xin Lasota cho gà dưới 2 tháng tuổi.
    - Dùng thuốc bồi dưỡng tăng cường sức đề kháng như B-complex, Vitamin C, Vitamin tổng hợp, men tiêu hóa, chất điện giải... liều theo hướng dẫn sử dụng của hãng thuốc.
    b) Phòng bệnh
    Vệ sinh thú y phòng bệnh
    Sử dụng vắc xin phòng bệnh cho gà: Nhỏ vắc xin Lasota lần 1 cho gà 5-7 ngày tuổi, sau 2 tuần nhỏ lần 2; Tiêm vắc xin cho gà lúc 38-40 ngày tuổi; nếu nuôi gà sinh sản thì tiêm nhắc lại trước khi gà vào đẻ.
    3. Bệnh E. coli
    3.1. Nguyên nhân
    Bệnh E. coli  do vi khuẩn Escherichia coli (E. coli) gây ra. Bệnh xảy ra ở các loài gia cầm, mọi lứa tuổi.
    3.2. Phương thức truyền lây
    Gia cầm bị nhiễm bệnh do vệ sinh môi trường hoặc thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do đường hô hấp hoặc đường ruột bị tổn thương, do tiếp xúc giữa các gia cầm bị bệnh, do điều kiện bất lợi ảnh hưởng đến sức khỏe của gà.
    3.3. Triệu chứng, bệnh tích
    a) Thể viêm túi lòng đỏ và viêm rốn
    Gia cầm con bị ỉa chảy, nặng bụng, gà tụ thành từng đám. Mổ khám thấy viêm túi lòng đỏ, lòng đỏ không tiêu, chuyển màu. Viêm xoang phúc mạc, viêm ruột.
    b) Thể bại huyết (dung huyết)
    Bệnh xảy ra đột ngột, đầu tiên gia cầm giảm ăn, mệt mỏi, lông xơ xác, ít vận động, tiêu chảy, đôi khi lẫn máu, có thể có triệu chứng hô hấp và vận động. Ở gia cầm mái thường giảm đẻ. Tỉ lệ chết ở gia cầm con có thể 50%. Bệnh tích thường thấy là: viêm ruột, gan sưng to, xung huyết cơ, viêm xoang phúc mạc, xoang bao tim.
    c) Thể viêm túi khí
    Thường kế phát sau các bệnh đường hô hấp, tụ huyết trùng, viêm phế quản truyền nhiễm. Túi khí viêm dầy, phủ fibrin như bã đậu, có thể viêm lan sang màng, gan, tim, xoang phúc mạc.
    d) Thể viêm ruột
    Thường kết hợp hoặc kế phát sau các bệnh cầu trùng viêm ruột hoại tử, kí sinh trùng hoặc bệnh Gumboro. Gia cầm tiêu chảy nặng, phân có dịch nhày, lẫn máu hoặc phân xanh.
    3.4. Điều trị và phòng bệnh
    a) Điều trị
    Dùng một trong các loại thuốc kháng sinh sau: Oxytetracyclin, Doxycyclin, Genta – costrim, Octamix, Colistin... liều theo hướng dẫn sử dụng của hãng thuốc. Kết hợp bổ sung vitamin, men tiêu hóa, thuốc trợ sức, trợ lực cho gia cầm. Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, cải thiện môi trường chăn nuôi, vệ sinh, phun khử trùng trong và ngoài chuồng nuôi.  
    b). Phòng bệnh
    Vệ sinh chuồng trại, phun khử trùng trong, ngoài chuồng nuôi định kì 1-2 tuần 1 lần.
    Vệ sinh nhà ấp và trứng ấp. Đảm bảo vệ sinh thức ăn và nước uống, nuôi đúng kỹ thuật.

    lien he: 01636990528
    www.trangtraithuyphuong.com
    Công ty Thụy Phương
    dia chi: 109/20 Nguyễn Sơn, Long Bien, Ha Noi

    Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

    trangtraithuyphuong.com xin giới thiệu: Chữa trị bệnh viêm gan Vịt

    1. Nguyên nhân
    Bệnh viêm gan vịt do virus (Duck Heapatitis Virus – DHV) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở vịt con, đặc biệt vịt con dưới 3 tuần tuổi, với đặc điểm chính là gan sưng và xuất huyết, tỷ lệ chết cao và truyền lây rất nhanh. Bệnh do 3 tuyp virus gây ra nhưng chủ yếu là tuyp I và tuyp II. Bệnh viêm gan vịt được Levine và Hofstad phát hiện đầu tiên vào năm 1945 tại Mỹ, sau đó bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước thuộc các châu Âu và châu Á.
    Tại Việt Nam, từ năm 1978, Trần Minh Châu và cộng sự đã nghi có bệnh viêm gan do virus của vịt. Kể từ đó đến nay, bệnh vẫn tiếp tục lưu hành ở nước ta nhưng ít được quan tâm. Hiện nay, bệnh đang gây thiệt hại nặng nề tại các tỉnh phát triển chăn nuôi vịt ở đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long.
    Vịt bị viêm gan là nỗi lo của bao người dân
    2. Triệu chứng bệnh tích
    Bệnh xảy ra đột ngột, thời gian nung bệnh ngắn chỉ trong vòng 24 giờ, bệnh lây lan nhanh, vịt chết tập trung vào ngày thứ 2-4 sau khi mắc bệnh, tỷ lệ chết rất cao có khi lên tới 100% ở vịt con.
    Đặc trưng của bệnh là vịt bị yếu dần và rối loạn vận động. Vịt bệnh mất thăng bằng, nằm nghiêng về một phía của cơ thể và chân đạp trước khi chết. Khi chết, vịt nằm ở tư thế đầu quay ngược về phía sau. Diễn biến của bệnh xảy ra nhanh khoảng 1 đến 2 giờ.
    Bệnh tích đại thể chủ yếu biểu hiện ở gan bị sưng, nhiều xuất huyết điểm và vệt. Lách sưng to và thận sưng lồi, tụ huyết tại các mạch máu của thận.
    Có thể chẩn đoán phân biệt giữa bệnh viêm gan vịt và dịch tả vịt, tụ huyết trùng và cúm gia cầm.
    3. Biện pháp phòng, trị
    + Khi dịch bệnh chưa xảy ra:
    Biện pháp quản lý, đặc biệt là biện pháp an toàn sinh học đóng vai trò quan trọng: kiểm soát nhập đàn, hạn chế nguy cơ mang mầm bệnh từ bên ngoài vào trại thông qua các phương tiện trung gian và thực hiện tốt vệ sinh và sát trùng chuồng trại.
    Ngoài ra, tiêm phòng vacxin như là một biện pháp hỗ trợ nhưng là biện pháp chủ động và hiệu quả nhất. Có 2 loại vacxin viêm gan vịt: Vacxin sống sử dụng cho vịt con và vacxin chết dùng cho vịt đẻ để truyền kháng thể thụ động giúp vịt con bảo hộ 2-3 tuần đầu tiên sau khi ấp nở.
    + Khi dịch bệnh xảy ra:
    Thực hiện cách ly, tiêu độc và sát trùng chuồng trại (BENCOCID, NAVETKON-S, NAVET-IODINE), dùng chế phẩm Men tăng trưởng sinh học bổ sung vitamin và vi sinh vật có lợi nhằm tăng cường sức đề kháng, cung cấp các chất cung năng lượng giải độc và các chất điện giải.
    Vì bệnh diễn tiến rất nhanh nên khi phát hiện bệnh sớm, để điều trị hiệu quả bệnh viêm gan vịt có thể sử dụng các chế phẩm kháng huyết thanh hoặc kháng thể lòng đỏ có chất lượng cao, đặc hiệu kháng với các loại virus đang gây bệnh tại Việt Nam.

    lien he: 01636990528
    www.trangtraithuyphuong.com
    Công ty Thụy Phương
    dia chi: 109/20 Nguyễn Sơn, Long Bien, Ha Noi

    trangtraithuyphuong.com xin giới thiệu: Cách trị bệnh cúm ở Vịt con

    1. Nguyên nhân: 
    Bệnh cúm ở vịt con do một loại virus cúm. Bệnh liên quan đến sức đề kháng của vịt, thường gặp ở những chuồng lạnh, ẩm, dơ, thức ăn có chất lượng kém. Vịt con từ 1-25 ngày tuổi dễ mắc bệnh nhứt. Bệnh lây qua thức ăn nuớc uống hay qua không khí ô nhiễm.
    cach-tri-benh-cum-o-vit-con (2)
    Hình ảnh Vịt con bị bệnh cúm tăng trưởng chậm
    2. Triệu chứng:
    Hắt hơi, chảy nước mũi, nước mũi lúc đầu trong sau đục đóng ở khóe mũi, thở khó.
    Kém ăn, gầy yếu, có những cơn co giật.
    3. Bệnh tích:
    Hốc mũi có dịch khô quánh lại, niêm mạc mũi bị xung huyết, phù.
    Phổi thủy thủng, một vài nơi xung huyết.
    cach-tri-benh-cum-o-vit-con (1)
    4. Phòng bệnh:
    Vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống, tránh gió lùa, mưa tạt. Cho vịt ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng nhất là đạm và thức ăn xanh 
    (Vitamin A).
    5.Trị bệnh:
    Không có thuốc điều trị đặc hiệu.
    Đối với vịt con 5-15 ngày khi mắc bệnh có thể dùng terramycine trộn vào thức ăn với liều 5-10mg/con cho ăn liên tục từ 5-15ngày làm giảm được tỉ lệ hao hụt và vịt khỏi bệnh tăng trưởng tốt hơn.
    Bổ sung Vitamin A vào trong khẩu phần thức ăn.

    lien he: 01636990528
    www.trangtraithuyphuong.com
    Công ty Thụy Phương
    dia chi: 109/20 Nguyễn Sơn, Long Bien, Ha Noi

    trangtraithuyphuong.com xin giới thiệu: Kỹ thuật chăn nuôi vịt con

    Bà con cần nắm vững kỹ thuật chăm sóc vịt theo từng giai đoạn như sau để mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, tránh dịch bệnh,…:
    ky-thuat-chan-nuoi-vit-con
    Khi nuôi vịt con cần phải nắm vững kỹ thuật
    Vịt con từ 1 – 3 ngày tuổi
    Ngày đầu có thể cho vịt tập ăn bằng bột bắp hoặc tấm, cho vịt uống nước có pha Vime C Electrolyte, B.complex C, Vimevit Electrolyte. Nhu cầu về nước uống của vịt từ 1 – 7 ngày tuổi là 120 ml/con/ngày. Từ ngày thứ hai trở đi có thể sử dụng thức ăn hỗn hợp dùng cho vịt con.
    Có thể phòng bệnh dịch tả cho vịt lúc 3 ngày tuổi. Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây cho thấy việc phòng bệnh sớm có đáp ứng miễn dịch thấp và có thể gây trung hòa kháng thể do mẹ truyền (ở vịt mẹ có tiêm phòng vacxin).
    Vịt con từ 4 – 10 ngày tuổi
    Nếu nuôi vịt thịt có thể tập thêm cho vịt ăn những thức ăn như rau xanh trộn lẫn với cơm.
    Thức ăn bổ sung đạm: Bột cá lạt, phân tôm. Chú ý phân tôm có hàm lượng muối rất cao, sử dụng quá nhiều trong khẩu phần vịt có thể ngộ độc muối. Những ngày đầu chỉ cho tắm 5 – 10 phút sau đó tăng dần lên và từ ngày thứ 10 trở đi cho vịt xuống nước tự do.
    Tiêm phòng vacxin dịch tả vịt đông khô TW2 lúc vịt 7 ngày tuổi.
    Vịt con từ 11 – 20 ngày tuổi
    Nếu có điều kiện nên cho vịt ăn thức ăn hỗn hợp. Khi vịt được 15 ngày tuổi nên cho ăn hai lần kết hợp chăn thả ngoài đồng để cho vịt kiếm thêm thức ăn. Nếu cho vịt ăn đơn thuần là tấm, cám trong giai đoạn này cần bổ sung thêm chất đạm như tôm, cua, cá nhỏ, ốc, hến…
    Ngày thứ 20 trở đi có thể tập cho vịt ăn lúa. Tiêm phòng vacxin phòng bệnh dịch tả vịt lần 2 lúc vịt 21 ngày tuổi sử dụng vacxin Kapevac hoặc dịch tả đông khô TW2 tiêm dưới da.
    cach-tri-benh-cum-o-vit-con (1)
    Vịt từ 30 – 80 ngày tuổi
    Sau 30 ngày tuổi vịt ăn lúa được và có khả năng tự kiếm mồi, lúc này vịt có thể cho chạy đồng. ở các giống vịt thịt, ngày tuổi thứ 80 là thời điểm thích hợp nhất để bán thịt.
    Vệ sinh phòng bệnh
    Vệ sinh thú y trong giai đoạn nuôi vịt con rất quan trọng. Trước khi thả vịt cần nạo vét sạch chất độn chuồng cũ, phun các thuốc sát trùng chuồng trại và dụng cụ như Vimekon (100gr Vimekon + 20 lít nước) hoặc Vime – Protex (1 lít Vime – Protex + 200 lít nước), sát trùng nước uống bằng Vime – Iodine (10ml Vime – Iodine + 20 lít nước).
    Trong thời gian úm vịt nên thường xuyên thay đổi chất độn chuồng hoặc rải thêm trấu hàng ngày, phun xịt thuốc sát trùng định kỳ 3 ngày/lần khi xung quanh có dịch bệnh và 7 – 10 ngày/ lần trong điều kiện bình thường.

    lien he: 01636990528
    www.trangtraithuyphuong.com
    Công ty Thụy Phương
    dia chi: 109/20 Nguyễn Sơn, Long Bien, Ha Noi

    trangtraithuyphuong.com xin giới thiệu: Kỹ Thuật Nuôi Vịt Sinh Sản (Vịt Đẻ)

    1. Chọn vịt sinh sản: Chọn vịt lên giai đoạn sinh sản lúc 21 – 22 tuần tuổi. Thời điểm này tỷ lệ loại thải thấp hơn thời điểm chọn lên hậu bị. Loại thải những con không đạt tiêu chuẩn giống như bị bệnh, ngoại hình có khuyết tật… Vịt trống được chọn khắt khe hơn và ghép trống mái theo tỷ lệ 1 : 5, 5 – 6. Khi sắp đẻ, vịt đã thay lông xong, bộ lông mượt trở lại. Nhìn bộ lông có thể đánh giá tương đối chính xác chất lượng nuôi dưỡng giai đoạn hậu bị.
    ky-thuat-nuoi-vit-sinh-san-vit-de (1)
    2. Chuồng trại, ao hồ:
    Chuồng nuôi vịt đẻ cũng có các kiểu chuồng như chuồng – sân – ao, chuồng sàn trên ao. Yêu cầu đối với chuồng nuôi là nền chuồng phải khô ráo, tránh chuột và các động vật khác phá ổ trứng. Tránh mưa nắng cho ổ đẻ.
    Ổ đẻ được để sát vách chuồng. Ổ đẻ phải làm phía trong chuồng để khi vịt từ ao lên, đi qua sân chơi vào chuồng đến ổ đẻ thì chân đã khô, không làm dơ ướt ổ đẻ. Có thể ngăn riêng cho khu vực ổ đẻ, sau 8 giờ sáng ngăn khu vực này lại để tránh vịt vào nằm trong ổ đẻ làm dơ ổ đẻ.
    Mật độ nuôi: 2 – 3 con/m2 nền chuồng.
    Lót nền chuồng và ổ đẻ bằng rơm khô, cỏ khô, trấu. Đặc biệt chú ý lót ổ đẻ, phải thay thường xuyên để tránh ẩm ướt và mốc. Trong điều kiện ẩm ướt, nấm và vi khuẩn rất dễ phát triển. Ổ đẻ được làm bằng gỗ, tre, tấm cót,… thành từng ô có kích thước 40 x 60 x 40 cm (Xem hình 1). Tính trung bình, mỗi ô cho 4 – 6 con mái đẻ.
    Thí dụ: Một đàn vịt đẻ có 100 con mái thì làm 4 cái ổ đẻ, mỗi cái 5 ô đẻ. Đàn vịt có 500 mái thì làm 15 cái, để dọc theo vách chuồng (chiều dài 30 m).
    Nếu làm chuồng sàn trên ao cá, trước hết chúng ta lót sàn ở chỗ đặt ổ đẻ bằng tấm cát-tăng, cót… rồi mới đặt ổ đẻ lên, nhằm tránh cho rơm, trấu rơi xuống ao.
    Ao nuôi vịt đẻ có độ sâu 1,2 mét trở lên. Nước phải được thay sạch sẽ để đảm bảo tỷ lệ đẻ và tỷ lệ phôi. Cần chú ý cầu ao, với độ nghiêng không quá 25o và mặt cầu không trơn trượt, không gồ ghề để tránh dập vỡ buồng trứng.
    3. Thức ăn, nước uống:
    Thức ăn cho vịt đẻ nuôi nhốt có hai dạng phổ biến sau, tùy điều kiện kinh tế và tính toán hiệu quả theo giá cả thị trường mà chọn loại hình đầu tư thức ăn cho phù hợp.
    Nuôi vịt đẻ hoàn toàn bằng thức ăn hỗn hợp (thức ăn viên). Dùng thức ăn viên có chi phí thức ăn tương đối cao, nhưng bù lại là sự thuận tiện, dễ sử dụng, chủ động về số lượng, theo dõi mức ăn hằng ngày dễ dàng,… Trên thị trường hiện nay có nhiều loại thức ăn cho vịt đẻ.
    Không được nhầm lẫn thức ăn vịt đẻ hướng trứng (thường có tỷ lệ protein thấp hơn) với thức ăn cho vịt đẻ hướng thịt cao sản này. Tránh thay đổi liên tục loại thức ăn, như vậy sẽ ảnh hưởng đến năng suất vịt đẻ. Điều quan trọng là nguồn thức ăn phải ổn định về chất lượng, nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn phải đảm bảo chất lượng và vệ sinh.
    Một phương thức khác hiện nay nhiều hộ nuôi vịt đẻ CV Super-M2 cải tiến áp dụng khá hiệu quả là kết hợp thức ăn viên hỗn hợp và nguồn thức ăn tự nhiên như ốc tươi, còng tươi và lúa. Chúng tôi khuyến cáo không nên thay toàn bộ thức ăn hỗn hợp bằng thức ăn tự nhiên, vì nguồn thức ăn tự nhiên thay đổi theo mùa vụ, con nước nên không thể chủ động về số lượng, chất lượng.
    Chỉ nên dùng theo công thức 70 – 80% thức ăn viên + 20-30% được thay bằng hỗn hợp lúa + ốc tươi, còng tươi. Cứ 1 kg thức ăn viên vịt đẻ được thay bằng 1,1-1,2 kg lúa + 0,8-0,9 kg ốc tươi. Nếu dùng còng tươi, do giá còng đắt (3500 – 4000 đồng/kg so với ốc bươu vàng chỉ 700-1200 đồng/kg), nên lượng còng tươi dùng ít hơn, khoảng 20 – 30 gam/con/ngày.
    Thí dụ:
    Đàn vịt đẻ gồm 200 con mái và 35 con trống, tổng cộng 235 con. Mỗi ngày ăn 54 kg thức ăn, gồm:
    Thức ăn viên vịt đẻ: 54 kg x 70% (38 kg).
    16 kg thức ăn còn lại được thay bằng 13 – 14 kg lúa + 17 – 18 kg ốc tươi. Nếu là ốc bươu vàng thì phải đập dập vỏ trước khi cho ăn.
    Rau xanh: 20 – 30 kg, tùy loại rau.
    Chuyển đổi từ loại thức ăn hậu bị sang thức ăn vịt đẻ từ tuần tuổi 22, nhưng vẫn phải khống chế mức ăn hàng ngày cho đến khi vịt đẻ 30 – 50% mới cho ăn tự do để tránh vịt bị mập. Nếu vịt bị quá mập, tích mỡ nhiều ở khoang bụng, xung quanh buồng trứng, hạn chế sự phát triển của buồng trứng, vịt đẻ muộn, tỷ lệ đẻ thấp và tỷ lệ trứng nhỏ, trứng dị hình cao.
    Vịt đẻ cho ăn 2 bữa/ngày. Cho vịt ăn vào lúc trời mát.
    Sử dụng máng ăn bằng gỗ, tôn hay nia mẹt, chậu. Một máng ăn bằng gỗ hay tôn có chiều dài 2 mét (Hình 2) đủ cho 70 – 100 con. Tránh để thức ăn ngoài mưa, nắng để bảo vệ chất lượng thức ăn. Những ngày nắng nóng, lượng thức ăn tiêu thụ giảm nhiều thì cần phải bổ sung thêm các chế phẩm bổ sung axít-amin và chất điện giải.
    Cần có đủ nước uống cho vịt đẻ. Nhu cầu lượng nước uống hằng ngày bằng 3 – 4 lần lượng thức ăn tinh. Trước khi thả vịt xuống ao phải cho vịt uống no nước ngọt. Có thể dùng máng uống tự chế bằng tôn, chậu sành hay máng uống tự động (công ty CP có bán trên thị trường máng uống tự động bằng nhựa).
    ky-thuat-nuoi-vit-sinh-san-vit-de (2)
    4. Chiếu sáng :
    Thời gian chiếu sáng quy định là 17 giờ/ngày. Ngoài chiếu sáng tự nhiên khoảng 12 – 14 giờ, phải chiếu sáng nhân tạo bổ sung 3 – 5 giờ/ngày. Công suất chiếu sáng là 3 – 5 W/m2 nền chuồng (treo bóng đèn tròn 75W cách mặt nền chuồng 2 – 2,5 mét). Chiếu sáng hợp lý sẽ kích thích đẻ trứng và đảm bảo chất lượng trứng giống cao.
    5. Nhặt và bảo quản trứng:
    Vịt đẻ tập trung vào 2 – 4 giờ sáng, nhưng có thể đẻ muộn đến 8 – 9 giờ sáng. Nên nhặt trứng làm 2 – 3 lần để trứng được sạch sẽ và tránh dập vỡ. Trứng sau khi nhặt xong cần chọn ngay những quả đủ tiêu chuẩn giống để bảo quản. Trứng dơ bẩn có thể rửa bằng dung dịch có chứa chlorin theo nồng độ 1250 ppm. Cứ 10 lít nước ấm pha 50 gam chất có chứa 25% chlorin. Hãng Cherry Valley đưa ra quy định nhiệt độ nước trong quá trình rửa trứng là 37oC. Tuyệt đối không được rửa trứng bằng nước lã, nước dơ, vì như vậy vi trùng dễ xâm nhập làm thối trứng.
    Trứng đựng vào khay, cần xé và bảo quản nơi khô mát. Nếu có phòng lạnh bảo quản ở nhiệt độ 18 – 20oC thì càng tốt. Trứng giống bảo quản 3 – 5 ngày, tối đa 7 ngày phải đưa ấp. Nếu để lâu hơn thì tỷ lệ chết phôi trong quá trình ấp sẽ tăng.
    ky-thuat-nuoi-vit-sinh-san-vit-de (3)
    6. Chích ngừa bệnh dịch tả vịt:
    Đối với vịt, dịch tả vịt là bệnh bắt buộc phải chích ngừa. Hiện nay, trên thị trường có một số loại vắc xin được sản xuất trong và ngoài nước. Trại vịt giống VIGOVA nhiều năm qua sử dụng vắc xin của công ty thuốc thú y TW2, TP. Hồ Chí Minh. Loại vắc xin này dễ sử dụng, hiệu quả cao và giá rẻ. Pha vắc-xin với nước sinh lý và chích dưới da cổ hay bắp đùi.
    7. Lịch chích ngừa cho vịt bố mẹ như sau:
    18 ngày tuổi: 0,5 cc/con.
    8 – 9 tuần tuổi (sau khi chọn vịt hậu bị): 1 cc/con.
    21 tuần tuổi: 1 cc/con.
    Những nơi có nguy cơ bệnh cao, có thể chích nhắc lại vào giữa chu kỳ đẻ trứng (sau 6 – 7 tháng đẻ), nhưng phải thận trọng vì có thể làm giảm tỷ lệ đẻ.

    lien he: 01636990528
    www.trangtraithuyphuong.com
    Công ty Thụy Phương
    dia chi: 109/20 Nguyễn Sơn, Long Bien, Ha Noi